channguyen_ntv
02-03-2006, 05:02
Thông số kỹ thuật
Thiết bị Bluetooth có vai trò chính (master) có thể kết nối với hơn 7 thiết bị xung quanh với vai trò phụ (slave). Vào bất cứ lúc nào, dữ liệu có thể được truyền giữa master và slave; nhưng thiết bị master chuyển rất nhanh từ thiết bị slave này sang thiết bị slave khác theo thứ tự bất kỳ. ( Khả năng đồng thời chuyển dữ liệu giữa master và nhiều slave là có thề xảy ra, nhưng ít được dùng nhiều trong thực tế). Một nhóm gồm 8 thiết bị (1 master và 7 slave) được gọi là piconet.
Theo lý thuyết, Bluetooth còn cho phép kết nối từ 2 hay nhiều piconet với nhau thành 1 scatternet với 1 số thiết bị có vai trò cầu nối sẽ liên tục là master trong 1 piconet và là slave trong piconet khác. Thiết bị đó hiện chưa có, có thể sẽ xuất hiện trong 2 năm nữa.
Một số thiết bị có thể thực thi truy vấn trên 1 thiết bị khác mà nó sẽ kết nối, và 1 vài thiết bị có thể được định để trả lời cho các truy vấn đó. Nếu thiết bị cố gắng kết nối biết địa chỉ của thiết bị kia, nó sẽ luôn được trả lời.
Mọi thiết bị có 1 địa chỉ 48bit duy nhất, trong điện thoại Nokia có thể biết được địa chỉ đó bằng cách nhấn "*#2820#". Trên máy tính dùng Linux, địa chỉ và lớp của thiết bị usb bluetooth có thể biết được bằng cách nhấn "hciconfig hci0 class" (không phải tất cả thiết bị đều được gọi là "hci0") . Mọi thiết bị còn được định nghĩa 1 lớp 24-bit. Lớp đó sẽ cung cấp thông tin chủng loại của thiết bị đó (điện thoại, điện thoại thông minh, máy tính, tai nghe ko dây,...), nó sẽ được truyền đi khi 1 thiết bị khác thực hiện truy vấn.
BD Address: 00:10:60:A7:93:19 ACL MTU: 192:8 SCO MTU: 64:8
Class: 0x020005
Service Classes: Networking
Device Class: Miscellaneous,
Các thiết bị có 1 tên gọi Bluetooth thân thiện, có thể được đặt bởi người dùng, và nó sẽ xuất hiện khi 1 thiết bị khác tìm nó, và xuất hiện trong danh sách cặp thiết bị. Tuy nhiên, từ khi địa chỉ thường xuyên tạo thành cặp, nó sẽ giữ nguyên địa chỉ kể cả khi tên gọi Bluetooth bị thay đổi. Hầu hết các điện thoại di động có tên gọi Bluetooth được đặt theo tên nhà sản xuất và kiểu của điện thoại.
Cặp thiết bị có thể được thiết lập 1 mối quan hệ tin cậy bằng cách học (người dùng nhập vào) 1 số bí mật được chia sẻ như 1”từ khóa”. Một thiết bị chỉ cần kết nối với 1 thiết bị tin cậy có thể tự xác nhận mật mã. Thiết bị tin cậy có thề mã hóa dữ liệu khi trao đổi với nhau, không thiết bị nào khác có thể đọc được tín hiệu của nó.
Giao thức hoạt động ở tần số 2.45 GHz. Để tránh nhiễu với các giao thức khác cùng sử dụng tần số 2.45 GHz, giao thức Bluetooth chia tần số làm 79 kênh (mỗi kênh rộng 1 MHz) và thay đổi kênh lên đến 1600 lần trên giây. Với phiên bản 1.1 và 1.2 có thể đạt tốc độ 723.1 kbit/s. Phiên bản 2.0 thực hiện tính năng Bluetooth Enhanced Data Rate (EDR), vì thế có thể đạt 2.1Mbit/s. Theo kỹ thuật, phiên bản 2.0 có mức tiêu thụ năng lượng cao hơn, nhưng nhanh hơn 3 lần làm giảm thiểu thời gian trao đổi dữ liệu, kết quả là giảm mức tiêu thụ chỉ còn 1 nửa so với thiết bị phiên bản 1.x.
Bluetooth khác với Wifi, phiên bản sau cùng của nó có băng thông cao hơn và bao phủ 1 không gian lớn hơn, nhưng nó đòi hỏi phần cứng tốn kém hơn, và tiêu thụ năng lượng nhiều hơn. Chúng dùng cùng loại tần số, nhưng dùng sự phối hợp đa thành phần khác nhau. Trong khi Bluetooth là sự thay thế của cable cho nhiều lọai ứng dụng khác nhau thì Wi-Fi chỉ thay thế cable cho việc truy cập mạng nội bộ. Dễ dàng nhận thấy, Bluetooth như USB không dây, còn Wifi như Ethernet không dây.
Hiện đã có rất nhiều loại thiết bị giao tiếp USB Bluetooth dành cho máy tính, một số trong chúng có kèm theo cả giao tiếp hồng ngoại.
:) :) :) to be continued...
Thiết bị Bluetooth có vai trò chính (master) có thể kết nối với hơn 7 thiết bị xung quanh với vai trò phụ (slave). Vào bất cứ lúc nào, dữ liệu có thể được truyền giữa master và slave; nhưng thiết bị master chuyển rất nhanh từ thiết bị slave này sang thiết bị slave khác theo thứ tự bất kỳ. ( Khả năng đồng thời chuyển dữ liệu giữa master và nhiều slave là có thề xảy ra, nhưng ít được dùng nhiều trong thực tế). Một nhóm gồm 8 thiết bị (1 master và 7 slave) được gọi là piconet.
Theo lý thuyết, Bluetooth còn cho phép kết nối từ 2 hay nhiều piconet với nhau thành 1 scatternet với 1 số thiết bị có vai trò cầu nối sẽ liên tục là master trong 1 piconet và là slave trong piconet khác. Thiết bị đó hiện chưa có, có thể sẽ xuất hiện trong 2 năm nữa.
Một số thiết bị có thể thực thi truy vấn trên 1 thiết bị khác mà nó sẽ kết nối, và 1 vài thiết bị có thể được định để trả lời cho các truy vấn đó. Nếu thiết bị cố gắng kết nối biết địa chỉ của thiết bị kia, nó sẽ luôn được trả lời.
Mọi thiết bị có 1 địa chỉ 48bit duy nhất, trong điện thoại Nokia có thể biết được địa chỉ đó bằng cách nhấn "*#2820#". Trên máy tính dùng Linux, địa chỉ và lớp của thiết bị usb bluetooth có thể biết được bằng cách nhấn "hciconfig hci0 class" (không phải tất cả thiết bị đều được gọi là "hci0") . Mọi thiết bị còn được định nghĩa 1 lớp 24-bit. Lớp đó sẽ cung cấp thông tin chủng loại của thiết bị đó (điện thoại, điện thoại thông minh, máy tính, tai nghe ko dây,...), nó sẽ được truyền đi khi 1 thiết bị khác thực hiện truy vấn.
BD Address: 00:10:60:A7:93:19 ACL MTU: 192:8 SCO MTU: 64:8
Class: 0x020005
Service Classes: Networking
Device Class: Miscellaneous,
Các thiết bị có 1 tên gọi Bluetooth thân thiện, có thể được đặt bởi người dùng, và nó sẽ xuất hiện khi 1 thiết bị khác tìm nó, và xuất hiện trong danh sách cặp thiết bị. Tuy nhiên, từ khi địa chỉ thường xuyên tạo thành cặp, nó sẽ giữ nguyên địa chỉ kể cả khi tên gọi Bluetooth bị thay đổi. Hầu hết các điện thoại di động có tên gọi Bluetooth được đặt theo tên nhà sản xuất và kiểu của điện thoại.
Cặp thiết bị có thể được thiết lập 1 mối quan hệ tin cậy bằng cách học (người dùng nhập vào) 1 số bí mật được chia sẻ như 1”từ khóa”. Một thiết bị chỉ cần kết nối với 1 thiết bị tin cậy có thể tự xác nhận mật mã. Thiết bị tin cậy có thề mã hóa dữ liệu khi trao đổi với nhau, không thiết bị nào khác có thể đọc được tín hiệu của nó.
Giao thức hoạt động ở tần số 2.45 GHz. Để tránh nhiễu với các giao thức khác cùng sử dụng tần số 2.45 GHz, giao thức Bluetooth chia tần số làm 79 kênh (mỗi kênh rộng 1 MHz) và thay đổi kênh lên đến 1600 lần trên giây. Với phiên bản 1.1 và 1.2 có thể đạt tốc độ 723.1 kbit/s. Phiên bản 2.0 thực hiện tính năng Bluetooth Enhanced Data Rate (EDR), vì thế có thể đạt 2.1Mbit/s. Theo kỹ thuật, phiên bản 2.0 có mức tiêu thụ năng lượng cao hơn, nhưng nhanh hơn 3 lần làm giảm thiểu thời gian trao đổi dữ liệu, kết quả là giảm mức tiêu thụ chỉ còn 1 nửa so với thiết bị phiên bản 1.x.
Bluetooth khác với Wifi, phiên bản sau cùng của nó có băng thông cao hơn và bao phủ 1 không gian lớn hơn, nhưng nó đòi hỏi phần cứng tốn kém hơn, và tiêu thụ năng lượng nhiều hơn. Chúng dùng cùng loại tần số, nhưng dùng sự phối hợp đa thành phần khác nhau. Trong khi Bluetooth là sự thay thế của cable cho nhiều lọai ứng dụng khác nhau thì Wi-Fi chỉ thay thế cable cho việc truy cập mạng nội bộ. Dễ dàng nhận thấy, Bluetooth như USB không dây, còn Wifi như Ethernet không dây.
Hiện đã có rất nhiều loại thiết bị giao tiếp USB Bluetooth dành cho máy tính, một số trong chúng có kèm theo cả giao tiếp hồng ngoại.
:) :) :) to be continued...